Thứ năm, Ngày 21 Tháng 09 Năm 2017
  • Chào mừng các bạn đến với Trang tin điện tử Bệnh viện Phong - Da liễu Trung ương Quy Hòa!
Trang chủTìm kiếmSơ đồ trangLiên hệEnglish
Liên kết
  Đang truy cập: 31  
 
1 1 7 0 0 5 2 2
 
 
 
Chuyên đề KCB Xét nghiệm

Độ tin cậy chẩn đoán của tế bào Tzanck trong bệnh da liễu

Người dịch Nguyễn Hoàng Ân

“Diagnostic reliability of the Tzanck smear in dermatologic
diseases” Aydolu Eryılmaz et al,International Journal of Dermatology2013
 
I. Giới thiệu
Tế bào học là một phương pháp chẩn đoán kiểm tra nhanh những đặc điểm thay đổi từng tế bào trong quá trình của bệnh. Chẩn đoán bệnh da, tế bào học lần đầu tiên được sử dụng trong các bệnh nhiễm Herpes và pemphigus bởi Arnault Tzanck vào năm 1947. Kể từ đó, tế bào học đã được sử dụng trong chẩn đoán bệnh mụn - bọng nước, khối u và u hạt và phương pháp này có được gọi là “Tzanck smear”. Nó là một kỹ thuật chẩn đoán đơn giản, nhanh, rẻ tiền và không xâm lấn. Tế bào học cũng có thể được sử dụng ở niêm mạc miệng và vùng quanh mắt, vùng đó khó sinh thiết và có thể giúp trong trường hợp khó khăn mà không thể chẩn đoán được bằng các phương pháp chẩn đoán đắt tiền như mô bệnh học và PCR. 
 
Tuy nhiên, phiến phết Tzanck đã được sử dụng trong thực tế chẩn đoán bệnh da chỉ có các bệnh nhiễm Herpes, pemphigus, bệnh phong và leishmaniase ở da. Ngoài ra, sinh thiết không cần thiết thực hiện, ngay cả trong bệnh nhân bị nhiễm Herpes
 
Độ tin cậy chẩn đoán, nó đòi hỏi độ lập lại của một kỹ thuật, là một tham số quan trọng để đánh giá hiệu quả chất lượng chẩn đoán của một kỹ thuật. Mặc dù các nghiên cứu đã được công bố về giá trị chẩn đoán của phiến phết Tzanck, độ tin cậy của chẩn đoán chỉ có giá trị trong nhiễm Herpes và ung thư tế bào đáy (BCC).
Chúng tôi đưa ra giả thuyết rằng phiến phết Tzanck có thể là một kỹ thuật đáng tin cậy cho các bệnh ngoài da khác nhiễm Herpes. Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá độ tin cậy trong chẩn đoán phiến phết Tzanck trong các bệnh mun - bọng nước, u và u hạt.
 
II. Vật liệu và phương pháp
1. Bệnh nhân
Từ tháng 2 năm 2009 đến tháng 7 năm 2010, tổng cộng 532 bệnh nhân khám bệnh da liễu tại phòng khám ngoại trú (Bệnh viện Adana, Đại học Y Khoa Baskent , Khoa Da liễu) và đều được thực hiện phiến phết Tzanck để đánh giá bệnh da. Trong số những bệnh nhân này có 32 bệnh nhân mất chẩn đoán trước đó và bị loại khỏi nghiên cứu. 500 bệnh nhân khác đưa vào nghiên cứu. Những người tham gia nghiên cứu sau khi được giải thích đồng ý cung cấp đầy đủ các thông tin. Hội đồng khoa học viện trường Đại học Baskent duyệt xét và phê duyệt nghiên cứu này.
Nghiên cứu được tiến hành bởi ba bác sĩ da liễu và hai y tá. Thứ nhất, một bác sĩ da liễu (MB, bác sĩ da liễu A) khám bệnh nhân, thực hiện phiến phết Tzanck, xác định chẩn đoán và so sánh lâm sàng và chẩn đoán tế bào học. Hai bác sỹ da liễu khác đọc kết quả phiến phết này, một trong số đó (MD, bác sĩ da liễu B) có ba năm kinh nghiệm tế bào học trước đây bao gồm các chẩn đoán tất cả các bệnh da liễu chẩn đoán bằng tế bào học ở phòng khám. Bác sĩ da liễu khác (AE, bác sĩ da liễu C) chỉ có kinh nghiệm tế bào học về bệnh leishmaniase ở da và nhiễm Herpes trước đây và được đào tạo đọc kết quả phiến phết Tzanck chỉ có một tháng. Hai y tá được phân công nghiên cứu có kinh nghiệm nhuộm mẫu phiến phết Tzanck.

2. Đánh giá
Các bệnh nhân trước tiên được bác sĩ da liễu A khám, ông ấy hoàn thành mẫu dữ liệu tiêu chuẩn hóa về tiền sử và dấu hiệu lâm sàng. Bác sĩ da liễu A lấy mẫu phiến phết Tzanck và đưa ra chẩn đoán dựa trên tiền sử, dấu hiệu lâm sàng, kết quả phiến phết Tzanck và kết quả khác như nuôi cấy (vi khuẩn, leishmaniase, nấm), giải phẫu bệnh và hóa mô miễn dịch, phiến phết kali hydroxit, miễn dịch huỳnh quang trực tiếp và gián tiếp và PCR bệnh lao và leishmaniase. Chẩn đoán được phân loại tùy theo chúng có liên quan tới bệnh bọng mụn nước,u, u hạt. Sau đó, bác sĩ da liễu B và C độc lập đánh giá các dữ liệu theo mẫu tiêu chuẩn hóa, đánh giá phiến phết và đưa ra chẩn đoán. Mỗi chẩn đoán được dán nhãn hoặc (B[+]) thực hiện hoặc (B[-]) không thực hiện bởi bác sĩ da liễu B và (C[+]) thực hiện hoặc (C[-]) không thực hiện bởi bác sĩ da liễu C. Độ tin cậy chẩn đoán được đánh giá thống kê bằng cách so sánh các chẩn đoán được thực hiện bởi bác sĩ da liễu B và C.
 
3. Phiến phết Tzanck
Kiểm tra tế bào học, mẫu được lấy bỡi bác sĩ da liễu A và nhuộm bởi một trong hai y tá. Trước tiên các tổn thương ngoài da được làm sạch bằng cồn 70% và bệnh phẩm được lấy bằng dao mổ (lưỡi số 15). Bệnh phẩm được lấy bằng cách cạo ở tổn thương mụn - bọng nước chợt và rạch da ở tổn thương dạng rắn (sẩn, cục, u). Các bệnh phẩm lấy được trải rộng ra ít nhất hai lam kính và tất cả các bệnh phẩm được nhuộm bằng May-Grunwald-Giemsa (Bio-Optica Milano SpA, Milan, Italy).
Tùy thuộc vào dấu hiệu bệnh ngoài da, mà một số bệnh có thể nhuộm thêm một số phương pháp khác như nhuộm xanh methylen ở những bệnh nhân nghi ngờ nhiễm nấm, nhuộm Ehrlich-Ziehl-Neelsen (kháng acid) ở những bệnh nhân bị nghi ngờ nhiễm vi khuẩn lao và nhuộm miễn dịch huỳnh quang trực tiếp ở những bệnh nhân nghi ngờ pemphigus. Những nhuộm thêm này không đưa cho bác sĩ da liễu B và C ở lần đầu đánh giá các mẫu tế bào học nhưng cung cấp sau khi kiểm tra nhuộm May-Grunwald-Giemsa và khi được họ yêu cầu.
Các mẫu tế bào học đã được kiểm tra và chẩn đoán bởi bác sĩ da liễu B và C, họ không được kiểm tra bệnh nhân nhưng họ được lấy thông tin tiền sử và mô tả khám da liễu ở mẫu tiêu chuẩn hóa.
 
Chẩn đoán tế bào học đã được thực hiện theo tiêu chuẩn chẩn đoán tế bào học được báo cáo trước đây (Bảng 1). Kết quả tế bào học quan sát trên phiến phết được chụp ảnh bằng máy ảnh kỹ thuật số (Kodak Share Z700; Kodak Co, Rochester, NY, Mỹ) ở độ phân giải 1600 x 1200 pixel.
 
4. Phân tích dữ liệu
Phân tích dữ liệu được thực hiện SPSS 11,0 (SPSS, Inc, Chicago, IL, USA). Độ tin cậy chẩn đoán phân tích bằng chỉ số kappa. Xác nhận là phù hợp xảy ra khi chẩn đoán  tế bào học tương tự được thực hiện bởi bác sĩ da liễu B và C độc lập. Hệ số ĸ thống kê được phân tích cho từng nhóm bệnh mụn-bọng nước, u và u hạt. Độ tin cậy chẩn đoán được xác định là khá (ĸ: 0,21-0,40), trung bình (ĸ: 0.41- 0,58), đáng kể (ĸ: 0,59-0,80), hoặc gần như hoàn hảo (ĸ: 0.81- 1.0). Ý nghĩa thống kê được xác định bởi giá trị của P ≤ 0,05.
 
III. Kết quả
Tổng cộng có 500 bệnh nhân (255 [51%] nữ, 245 [49%] nam; tuổi trung bình: 39 tuổi, khoảng: 0-87 tuổi) hoàn thành nghiên cứu. Để chẩn đoán chuẩn, kỹ thuật mô bệnh học sử dụng phổ biến nhất để chẩn đoán kiểm tra (52%). Các xét nghiệm khác như là huyết thanh virus (11%), miễn dịch huỳnh quang trực tiếp (3%), nhuộm kháng axit và PCR bệnh lao và leishmaniase (3%). Các tổn thương phổ biến nhất là mụn bọng nước, sẩn ngứa, mảng và vết chợt (Bảng 2). Phân loại bệnh thường gặp nhất là mụn- bọng nước chợt (54%) và nhiễm khuẩn là phổ biến nhất của các tổn thương (Bảng 3). Bệnh u thường gặp nhất là BCC (Bảng 4) và các bệnh u hạt thường gặp nhất là leishmaniase (Bảng 5). Độ tin cậy chẩn đoán của phiến phết Tzanck là đáng kể cho tất cả các bệnh kết hợp và cao nhất trong các tổn thương mụn bọng nước chợt (Bảng 6).
 
Bệnh mụn bọng nước chợt thường gặp nhất là nhiễm Herpes. Tế bào ly gai và tế bào đa nhân khổng lồ được phát hiện cả bởi bác sĩ da liễu B và C 108 (94%) mẫu từ những bệnh nhân nhiễm Herpes. Tế bào ly gai, cầu khuẩn và bạch cầu đa nhân trung tính cả hai bác sĩ da liễu B và C ghi nhận là 50 (98%) mẫu từ những bệnh nhân chốc bọng nước. Hơn 10 tế bào con nòng nọc (100 phóng đại) đã được phát hiện bởi cả hai bác sĩ da liễu B và C là 47 (87%) mẫu từ bệnh nhân bị viêm da xốp bào. Tế bào ly gai  được tìm thấy bởi cả bác sĩ da liễu B và C là 47 (88%) mẫu từ những bệnh nhân pemphigus.
 
Độ tin cậy chẩn đoán phiến phết Tzanck trong tổn thương u là trung bình (Bảng 6). Trong tổn thương u có 109 là lành tính, 75 là ác tính và 6 là tiền ác tính (Bảng 4). Tổn thương ác tính phổ biến nhất là BCC được chẩn đoán bởi bác sĩ da liễu B tất cả các trường hợp nhưng chẩn đoán nhầm là nevus bởi bác sĩ da liễu C ba trường hợp do các tế bào sắc tố dạng tế bào đáy bị nhầm là các tế bào dạng nevus trung bì. Cả hai bác sĩ da liễu B hay C đều không chẩn đoán phân biệt ung thư tuyến bã.
 
Một mẫu bệnh phẩm lấy từ tổn thương loét kéo dài hai tuần ở môi dưới của một bệnh nhân, cả hai bác sỹ da liễu đều thấy nhiều tế bào ly gai và tế bào đa nhân khổng lồ và xem xét các kết quả tương thích nhiễm Herpes (Hình 1). Kiểm tra giải phẫu bệnh của tổn thương này cho thấy ung thư tế bào gai ly gai (SCC). Mẫu từ một bệnh nhân ung thư tuyết mồ hôi được bác sĩ da liễu C đọc ung thư di căn, nhưng bác sĩ da liễu B phát hiện các đảo tế bào bất thường có chứa chất hyaline ở trung tâm và các tế bào bất thường xung quanh các đảo này (Hình 2). Emperipolesis đã được nhìn thấy một vài tế bào khổng lồ bất thường. Một vài tế bào ở những đảo này có hình dạng như dấu phẩy và được hiểu là porocarcinoma (Hình 2).
 
Phiến phết Tzanck một trường hợp bệnh Bowen không chẩn đoán cả hai bác sỹ da liễu vì không có tế bào bất thường, ngoại trừ tăng sừng. Bác sĩ da liễu C phát hiện dày sừng chỉ có một mẫu dày sừng ánh sáng và không phân biệt bệnh này với dày sừng da dầu. Bác sĩ da liễu B ghi nhận tế bào sừng bất thường một vài chỗ ở mẫu dày sừng ánh sáng.
 
Các tổn thương u lành tính  phổ biến nhất là nốt ruồi hắc tố (ở trung bì, n = 19; hỗn hợp, n = 15; màng đáy, n = 11). Cả hai bác sĩ da liễu B và C đều xác định tế bào nevi trong tất cả các mẫu nốt ruồi hắc tố. Tế bào mast không được ghi nhận bởi bác sĩ da liễu C ở một mẫu u tế bào mast vì các tế bào thoái hóa hạt. Một nang dạng thượng bì bị vỡ nó biểu hiện những thay bất thường bỡi xâm nhập viêm dày đặc nhầm lẫn với SCC cả hai bác sĩ da liễu (Hình 3).
 
Những tổn thương u lành tính, hầu hết các chẩn đoán tế bào học âm tính liên quan đến bệnh nhân dày sừng da dầu. Dày sừng da dầu không được chẩn đoán bỡi bác sĩ da liễu C là tám bệnh nhân; bốn trong số những bệnh nhân này biểu hiện tăng sừng nhưng không được cả hai bác sĩ da liễu chẩn đoán. Bốn bệnh nhân khác không được bác sĩ da liễu C chẩn đoán, bác sĩ da liễu B chẩn đoán và xác định được một vài nang sừng và dày sừng. Bác sĩ da liễu B phát hiện những đảo dạng tế bào đáy chứa chất vô định hình ở trung tâm của hai mẫu u tuyến mồ hôi (Hình 4), nhưng bác sĩ da liễu C đã không chẩn đoán như vậy.
 
Độ tin cậy phiến phết Tzanck trong chẩn đoán các tổn thương u hạt là đáng kể (Bảng 6). Leishmaniase ở da biểu hiện trung bình 8 tháng (khoảng: 2-36 tháng). Hai bệnh nhân leishmaniase ở da, cả hai bác sĩ da liễu B và C không phát hiện ký sinh trùng. Ba bệnh nhân leishmaniase ở da khác không được chẩn đoán bởi bác sĩ da liễu C có rất ít ký sinh trùng.
 
Hai bệnh nhân bị lupus hạt kê lan tỏa ở mặt cả hai bác sĩ da liễu B và C xác định u hạt với tế bào Langhans và các tế bào khổng lồ dị vật. Một bệnh nhân trứng cá đỏ dạng lupus cả hai bác sĩ da liễu B và C xác định u hạt với tế bào khổng lồ dị vật và ký sinh trùng Demodex; ký sinh trùng được nhìn thấy hình ảnh âm bản trên phiến phết Tzanck và hình ảnh màu đỏ nhuộm kháng acid (Hình 5).
 
Bảng 1: kết quả chẩn đoán tế bào học bệnh da
Chẩn đoán tế bào học
Chẩn đoán phát hiện tế bào học
BCC (ung thư tế bào đáy)
Các tế bào dạng đáy thành đám
Chốc bọng nước
Tế bào ly gai, cầu khuẩn, bạch cầu đa nhân trung tính
Bệnh Candida
Sợi tơ nấm giả, bào tử
Viêm da tiếp xúc
> 10 tế bào hình con nòng nọc
Leishmaniase ở da
Thể Leishman-Donovan
Bệnh Darier
Tế bào ly gai,thể corp rond, grain
Nấm da
Sợi nấm, bào tử
U hạt dị vật
Thể dị vật, tế bào khổng lồ dị vật
U hạt vòng
U hạt hang rào, chất nhầy
Viêm da u hạt
Hình thành u hạt, tế bào khổng lồ Langhans và /hoặc dị vật
Bệnh Hailey-Hailey
Tế bào ly gai không dương tính với miễn dịch huỳnh quang trực tiếp
Bệnh tay, chân và miệng
Tế bào sừng với nhân hợp bào, không có tế bào ly gai
Nhiễm Herpes
Tế bào ly gai, tế bào đa nhân khổng lồ
Viêm da tiếp xúc dạng chàm nhiễm khuẩn
> 10 tế bào hình con nòng nọc, cầu khuẩn, trực khuẩn
U vàng juvenile
Tế bào khổng lồ touton, tế bào bọt
U lympho
Tế bào lympho bất thường
U tế bào Mast
Tế bào Mast từng đám
Nốt ruồi sắc tố
Tế bào dạng nevi loại trung và thượng bì
U hắc tố
Tế bào dạng nevi bất thường
Ung thư di căn
Tế bào bất thường (không tế bào keratin và dạng nevi)
Nhiễm khuẩn mycobacteria
Trực khuẩn kháng acid
Pemphigus
Tế bào ly gai dương tính với miễn dịch huỳnh quang trực tiếp
Pemphigus dạng herpes
Tế bào ly gai, > 10 tế bào hình con nòng nọc
Bệnh sarcoidose
Hình thành u hạt, tế bào khổng lồ Langhans, Touton và / hoặc dị vật, không có vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng, chất hoại tử, chất nhầy
Bệnh ghẻ
Cái ghẻ
Tăng sản tuyến bả
Tế bào tuyến bã thành cụm
Dày sừng da
Tăng sừng, cầu sừng
Ung thư tế bào gai
Tế bào keratin bất thường
Hội chứng bong vảy da do tụ cầu(SSSS)
Tế bào di sừng ly gai (không có bạch cầu đa nhân trung tính và cầu khuản)
 
Bảng 2: kết quả phiến phết Tzanck theo loại tổn thương
Loại tổn thương
Tất cả
B(+), C(+)
B(-), C(-)
B(+), C(-)
Mụn nước, n
152
145
1
6
Sẩn, n
140
119
11
10
Mảng, n
64
56
3
5
Vết chợt, n
50
43
4
3
Loét, n
30
21
6
3
Mụn mủ, n
23
21
2
-
Bọng nước, n
17
13
4
-
Cục, n
13
12
1
-
U, n
6
6
-
-
Dát, n
5
4
1
-
Tổng số, n
500
440
33
27
 
B(+), C(+), cả hai bác sĩ da liễu B và C chẩn đoán dương tính.
B(-), C(-), cả hai bác sĩ da liễu B và C chẩn đoán âm tính.
B(+),C (-), bác sĩ da liễu B chẩn đoán dương tính, bác sĩ da liễu C chẩn đoán âm tính.
Không có trường hợp bác sĩ da liễu B chẩn đoán âm tính và bác sĩ da liễu C chẩn đoán dương tính.
 
Bảng 3: Chẩn đoán các bệnh ngoài da bằng phiến phết Tzanck ở tổn thương mụn bọng nước chợt.
Chẩn đoán
Tất cả
B(+), C(+)
B(-), C(-)
B(+), C(-)
Mụn bọng nước chợt, (tất cả), n
272
241
21
10
Nhiễm herpes, n
115
108
5
2
Chốc bọng nước, n
51
50
-
1
Nhiễm nấm, n
21
19
1
1
Bệnh tay, chân và miệng
3
2
1
-
Bệnh vius ở cừu dê, n
1
-
1
-
Ghẻ, n
1
1
-
-
SSSS
1
1
-
-
Viêm da xốp bào, n
54
47
2
5
Pemphigus, n
9
8
-
1
Bệnh Hailey-Hailey, n
5
5
-
-
Apther, n
3
-
3
-
Liken phẳng, n
3
-
3
-
Pemphigoid, n
2
-
2
-
Hồng ban đa dạng, n
1
-
1
-
Hồng ban cố định do thuốc, n
1
-
1
-
Ly thượng bì bọng nước bẩm sinh, n
1
-
1
-
 
B(+), C(+), cả hai bác sĩ da liễu B và C chẩn đoán dương tính.
B(-), C(-), cả hai bác sĩ da liễu B và C chẩn đoán âm tính.
B(+), C(-), bác sĩ da liễu B chẩn đoán dương tính, bác sĩ da liễu C chẩn đoán âm tính.
Không có trường hợp bác sĩ da liễu B chẩn đoán âm tính và bác sĩ da liễu C chẩn đoán dương tính.
 
Bảng 4: Chẩn đoán các bệnh u bằng phiến phết Tzanck
Chẩn đoán
Tất cả
B(+), C(+)
B(-), C(-)
B(+), C(-)
Bệnh u, (tất cả), n
190
168
8
14
Ung thư tế bào đáy, n
53
50
-
3
Ung thư tế bào gai, n
9
7
1
1
U hắc tố ác tính, n
6
6
-
-
U gai sừng, n
3
3
-
-
Ung thư tuyến bã, n
1
-
1
-
Ung thư tuyến mồ hôi, n
1
-
-
1
Ung thư bạch cầu hạt, n
1
1
-
-
Ung thư vú di căn, n
1
1
-
-
Nốt ruồi hắc tố, n
45
45
-
-
Dày sừng da dầu, n
32
24
4
4
U mềm lây, n
19
18
-
1
Dày sừng ánh sáng, n
3
2
-
1
Bệnh bowen, n
3
2
1
-
U sơ, n
3
2
-
1
Tăng sinh tuyến bã, n
3
3
-
-
Nốt ruồi tuyến bã, n
2
2
-
-
U tuyến mồ hôi, n
2
1
-
1
U tế bào mast, n
1
-
-
1
Nang dạng thượng bì, n
1
-
1
-
U vàng, n
1
1
-
-
 
B(+), C(+), cả hai bác sĩ da liễu B và C chẩn đoán dương tính.
B(-), C(-), cả hai bác sĩ da liễu B và C chẩn đoán âm tính.
B(+), C(-), bác sĩ da liễu B chẩn đoán dương tính, bác sĩ da liễu C chẩn đoán âm tính.
Không có trường hợp bác sĩ da liễu B chẩn đoán âm tính và bác sĩ da liễu C chẩn đoán dương tính.
 
Bảng 5: Chẩn đoán các bệnh u hạt bằng phiến phết Tzanck
Chẩn đoán
Tất cả
B(+), C(+)
B(-), C(-)
B(+), C(-)
Bệnh u hạt, (tất cả), n
38
31
4
3
Leishmania, n
21
16
2
3
Nhiễm Mycobacterial, n
5
5
-
-
Sarcoidose, n
3
3
-
-
U hạt dị vật, n
2
2
-
-
Lupus hạt kê lan tỏa ở mặt, n
2
-
2
-
U hạt vòng, n
2
2
-
-
U vàng juvenile, n
1
1
-
-
U hạt Majochi, n
1
1
-
-
Trứng cá đỏ dạng lupus
1
1
-
-
 
B(+), C(+), cả hai bác sĩ da liễu B và C chẩn đoán dương tính.
B(-), C(-), cả hai bác sĩ da liễu B và C chẩn đoán âm tính.
B(+), C(-), bác sĩ da liễu B chẩn đoán dương tính, bác sĩ da liễu C chẩn đoán âm tính.
Không có trường hợp bác sĩ da liễu B chẩn đoán âm tính và bác sĩ da liễu C chẩn đoán dương tính.
 
Bảng 6: Đánh giá độ tin cậy trong chẩn đoán các bệnh da bằng phiến phết Tzanck (k)
Phân loại bệnh
Tất cả
B(+), C(+)
B(-), C(-)
B(+), C(-)
Giá trị k
95% CI
Mụn - bọng nước chợt, n
272
241
21
10
0,79
0,66-0,91
U, n
190
168
8
14
0,50
0,28-0,72
U hạt, n
38
31
4
3
0,68
0,36-1,00
Tổng số, n
500
440
33
27
0,59
0,57-0,79
 
B(+), C(+), cả hai bác sĩ da liễu B và C chẩn đoán dương tính.
B(-), C(-), cả hai bác sĩ da liễu B và C chẩn đoán âm tính.
B(+), C(-), bác sĩ da liễu B chẩn đoán dương tính, bác sĩ da liễu C chẩn đoán âm tính.
Không có trường hợp bác sĩ da liễu B chẩn đoán âm tính và bác sĩ da liễu C chẩn đoán dương tính.
CI: confidence interval: khoảng tin cậy.
Hình 1, 2
 
Hình 3, 4, 5 
 

IV. Thảo luận

Theo cách đánh giá này độ tin cậy chẩn đoán của phiến phết Tzanck trong chẩn đoán các bệnh ngoài da ở 500 bệnh nhân, thống nhất giữa hai bác sĩ da liễu là cao. Nghiên cứu này bao gồm các bệnh da liễu khác nhau, không giống như nghiên cứu trước đó chỉ có nhiễm hespes. Độ tin Chẩn đoán cậy ở tổn thương mụn bọng nước chợt và u hạt lớn hơn so với tổn thương u (Bảng 6). Độ tin cậy chẩn đoán tuyệt vời của các phiến phết Tzanck hỗ trợ việc sử dụng kỹ thuật này trong thực tế các hệnh da liễu và cho thấy rằng kỹ thuật này có thể cho kết quả tương tự khi nó được thực hiện bỡi  bác sĩ lâm sàng khác nhau. Các nghiên cứu trước đây cho thấy phiến phết Tzanck chẩn đoán chính xác cao trong chẩn đoán các bệnh da và sự kết hợp chẩn đoán chính xác và độ tin cậy chẩn đoán cao nên kỹ thuật này là công cụ quan trọng cho lâm sàng. Hơn nữa, phiến phết Tzanck đơn giản, dễ thực hiện, nhanh chóng và rẻ tiền với những đặc điểm này có thể tạo thuận lợi cho bác sĩ da liễu sử dụng nó thường xuyên hàng ngày.

Có ba lý do chính tại sao một số trường hợp không chẩn đoán tế bào học bởi bác sĩ da liễu cả B và C. Thứ nhất, một số bệnh thiếu những điểm đặc biệt của tế bào học, chẳng hạn như trong viêm miệng aphthous, liken phẳng chợt, Pemphigoid, hồng ban cố định và ly thượng bì bọng nước bẩm sinh. Thứ hai, một số tổn thương khó lấy mẫu, chẳng hạn như trong dày sừng da dầu, u xơ da và u hạt vòng. Thứ ba, sự chuẩn bị tế bào của  ung thư tuyến mồ hôi (eccrine porocarcinoma), ung thư tế bào hạt và ung thư tuyến bã không giải thích trước cho cả hai bác sĩ da liễu đánh giá.

Tầm quan trọng trong việc đào tạo sử dụng phiến phết Tzanck đã được khẳng định độ tin cậy chẩn đoán cao trong bệnh mụn - bọng nước chợt và u hạt. Bác sĩ da liễu C quen với tìm tế bào trong tổn thương Herpes, nhiễm nấm, pemphigus và leishmaniase da nhưng không có kinh nghiệm với phiến phết Tzanck phát hiện tổn thương mụn bọng nước chợt và u hạt. Tuy nhiên, sau một tháng đào tạo, bác sĩ da liễu C đạt đáng kể so với bác sĩ da liễu B trong chẩn đoán bệnh mụn bọng nước chợt và u hạt.

Độ tin cậy của phiến phết Tzanck trong nhiễm Herpes đã được đánh giá bởi Oranje và cộng sự. Họ cũng đánh giá độ tin cậy cao và không tìm thấy sự khác biệt đáng kể giữa ba người đọc kết quả của họ. Trong nghiên cứu này, độ tin cậy trong chẩn đoán của phiến phết Tzanck cao nhất cho các tổn thương mụn bọng nước chợt.

Độ tin cậy chẩn đoán của phiến phết Tzanck là trung bình ở tổn thương u chứng tỏ sự cần thiết phải có kinh nghiệm nhiều hơn để đọc kết quả các mẫu từ các tổn thương này. Kinh nghiệm có thể giảm thiểu nguy cơ cho kết quả kém do các bác sỹ lâm sàng thiếu kinh nghiệm sử dụng kỹ thuật này. Vì vậy, bác sĩ da liễu nên cẩn thận hơn khi sử dụng phiến phết Tzanck để chẩn đoán tổn thương u. Trong tổn thương u tế bào học thường sử dụng nhất trong BCC. Một đánh giá được xuất bản cho thấy rằng tế bào học  có tiềm năng rất có ý nghĩa với rất độ nhạy cao (97%, khoảng tin cậy 95% [CI] 94-99) và độ đặc hiệu (86%, 95% CI 80-91). Do chẩn đoán chính xác cao của phiến phết Tzanck ở  tổn thương u, đào tạo và kinh nghiệm tôt hơn có thể cho phép bác sĩ da liễu sử dụng kỹ thuật nay thành công bằng soi da.

Có một số hạn chế sử dụng phiến phết Tzanck trong các bệnh u hạt và u. Mục đích của kỹ thuật này trong các bệnh u hạt là xác định nguyên nhân nhiễm trùng. Tế bào học không đặc biệt trong một số bệnh u hạt không nhiễm trùng như lupus hạt kê lan tỏa ở mặt và sarcoidose. Hơn nữa, chẩn đoán tế bào học ở tổn thương u  có thể là một thử thách  và đôi khi rất khó vì nhiều hình thái khác nhau có thể nhìn thấy ở cả hai tổn thương da u và không u như trong tổn thương SCC ly gai trong nghiên cứu này (Hình 1). Ngoài ra, những khối u chắc và các bệnh khối u giống nhau biểu hiện các đặc điểm tế bào chồng chồng chéo lên nhau như nang dạng thượng bì vỡ trong nghiên cứu này (Hình 3).

Những hạn chế của nghiên cứu này bao gồm sự khác biệt về kinh nghiệm giữa hai bác sĩ da liễu người thực hiện chẩn đoán tế bào học; bác sĩ da liễu B đã được nhiều kinh nghiệm và có thể để đào tạo bác sĩ da liễu C. Hơn nữa, nghiên cứu này so sánh đánh giá chỉ trong hai bác sĩ da liễu.

Tóm lại, sau một thời gian đào tạo ngắn hạn, phiến phết Tzanck có thể được sử dụng đánh giá tổn thương mụn bọng nước chợt và u hạt, nhưng kinh nghiệm hơn là cần thiết cho việc đánh giá các tổn thương u bằng phiến phết Tzanck.

 
 
 

Ngày 22/11/2014
 
[ In trang ][ Xem & in ][ Gửi mail ][ Đầu trang ][ Trở lại ]
 

THÔNG BÁO

 lich kcb

 

 Thông báo mời thầu gói thầu số 1 mua sắm TTBYT 2017

 

 Thông báo mời thầu gói thầu số 2 mua sắm TTBYT 2017

 

 Thông báo mời thầu gói thầu số 3 mua sắm TTBYT 2017

 

 Thông báo mời thầu gói 4 thầu số mua săm TTBYT

 
TÁC NGHIỆP
TIN VIDEO
Giới thiệu Bệnh viện
  Trang tin điện tử Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa 
Giấy phép của Cục Báo chí – Bộ Văn hóa Thông tin số: 54/GP-BC ngày 01/03/2006
  Bản quyền: Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa
 Tel: (84 56) 3747 999 – Fax: (84 56) 3646 344 – Email: quyhoandh2005@gmail.com