Thứ hai, Ngày 22 Tháng 04 Năm 2019
  • Chào mừng các bạn đến với Trang tin điện tử Bệnh viện Phong - Da liễu Trung ương Quy Hòa!
Trang chủTìm kiếmSơ đồ trangLiên hệEnglish
Liên kết
  Đang truy cập: 44  
 
1 3 7 9 4 4 5 7
 
 
 
Chuyên đề KCB Xét nghiệm

 NẤM MEN VÀ NẤM SỢI NHẠY CẢM VỚI THUỐC KHÁNG NẤM

ĐƯỢC PHÂN LẬP TỪ MÓNG

 
Lược dịch từ: “Antifungal susceptibility patterns of yeasts and filamentous fungi isolated from nail infection”.
 
I.Giới thiệu
Nấm móng là một bệnh nấm ảnh hưởng đến móng tay và móng chân, chiếm khoảng 50% tất cả các nhiễm trùng móng và bệnh nấm nông phổ biến nhất ở nhiều quốc gia.
 
Dermatophytes, nấm men và filamentous fungi non-dermatophyte (FFND) là các tác nhân gây bệnh của nấm móng. Bệnh nấm móng là một vấn đề y tế quan trọng bởi vì nó liên quan đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và điều trị chi phí cao. Nấm móng đòi hỏi điều trị kéo dài và điều trị đáp ứng kém.
 
 Thử nghiệm độ nhạy kháng nấm trong ống nghiệm có thể giúp lựa chọn giữa các thuốc kháng nấm khác nhau để sử dụng trong điều trị nấm móng. Các phương pháp pha loãng Broth dùng theo Viện tiêu chuẩn lâm sàng và xét nghiệm (CLSI), theo tài liệu M27-A38 và M38-A9 với một số điều chỉnh được sử dụng để xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của thuốc kháng nấm sử dụng trong điều trị nấm móng do nấm men và nấm sợi.
 
 Mục đích của nghiên cứu này là để xác định tỷ lệ nấm men, dermatophytes và FFND là tác nhân gây móng từ bệnh nhân của một bệnh viện ở Goiania ở Brazil đánh giá hoạt tính kháng nấm trong ống nghiệm của một số thuốc  kháng nấm được sử dụng lâm sàng.
 
II.Vật liệu và phương pháp
1.    Bệnh nhân
 Nghiên cứu này được tiến hành trên 114 bệnh nhân nghi ngờ bệnh nấm móng, với tổng số 136 mẫu (móng chân và móng tay), tại Khoa Da liễu Bệnh viện Goiania ở Brazil, từ tháng 3 năm 2008 đến Tháng 3 năm 2009. Dữ liệu nhân khẩu học, chủ yếu là tuổi và giới tính được lấy từ mỗi bệnh nhân. Các dạng lâm sàng khác nhau, chẳng hạn như nấm móng hai bên hoặc bề tự do (DLSO), nấm ở gốc móng (PSO), nấm móng nông trắng (SWO) và nấm móng loạn dưỡng toàn bộ (TDO), có liên quan đến từng tổn thương móng. Tất cả bệnh nhân đã đồng ý tham gia vào nghiên cứu và phê duyệt hội đồng Đạo đức sinh học của Bệnh viện Goiania ở Brazil.
 
2.    Phân lập
 Các mẫu bệnh phẩm ở móng của bệnh nhân được lấy bằng cách nạo bằng dao mổ vô trùng. Chẩn đoán bệnh nấm móng được soi trực tiếp dưới kính hiển vi với dung dịch kali hydroxit 20%. Chỉ những mẫu dương tính mới được sử dụng để nuôi cấy. Nếu bệnh nhân có nhiều hơn một tổn thương, mỗi vị trí được cạo soi và nuôi cấy riêng biệt.
Các mẫu dương tính được cấy trên một trong hai môi trường thạch sabouraud dextrose (DifcoTM), có và không có cycloheximide để ức chế sự tăng trưởng của một số tác nhân cơ hội. Nuôi cấy ở  nhiệt độ 25°C và được kiểm tra hàng ngày kéo dài 1 tháng.
 
Khi nuôi cấy dermatophytes mọc, chúng được coi là mầm bệnh, ngay cả khi các loài khác phát triển. Việc xác định một nấm mốc là tác nhân gây bệnh nấm móng thì cần nuôi cấy lặp đi lặp lại. Nấm men được xác định tác nhân gây bệnh khi được kiểm tra trực tiếp và tăng sinh khi nuôi cấy.
 
Nấm dermatophytes được xác định bằng các phương pháp chuẩn sử dụng các đặc điểm đại thể và vi thể của các khuẩn lạc, các thử nghiệm sinh hóa và sinh lý như hoạt động urê và thử nghiệm xuyên tóc trong ống nghiệm.
Xác định các chủng Candida được sử dụng thử nghiệm ống mầm, hình ảnh vi thể của các khuẩn lạc trên môi trường thạch bột ngô (DifcoTM), carbon và nitơ đồng hóa và lên men đường.  Ngoài ra, tất cả các chủng phân lập song song trên các đĩa thạch CHROMagar Candida (DifcoTM) để xác định Candida albicans. Đối với các loài Candida không thể xác định được bằng các phương pháp được nêu ở trên, thì được xác định bằng API 20C AUX (BioMerieux, Marcy l’Etoile, Pháp).
 
Các loại nấm non- dermatophytes được xác định bằng hình thái đại thể và vi thể của các khuẩn lạc sau khi nuôi cấy trên môi trường đường khoai tây (DifcoTM).
 
3.    Thử nghiệm nhạy cảm trong ống nghiệm
Thử nghiệm tính nhạy cảm với thuốc kháng nấm được thực hiện bằng phương pháp  broth microdilution theo quy trình của CLSI, theo các tài liệu M27-A38 cho nấm men và M38-A9 với một số thay đổi đối với nấm sợi.
Các thuốc kháng nấm và chuẩn bị cấy nấm dermatophytes và fiamentous fungus non-dermatophytes
 
Ketoconazole, itraconazole (Dược phẩm Jansen, Beerse, Bỉ), terbinafine (Viện nghiên cứu Novartis, Vienna, Áo) và griseofulvin (Công ty hóa chất Sigma, St. Louis, Mo.) đã được sử dụng để đánh giá tính nhạy cảm trong ống nghiêm của dermatophytes. Voriconazole (Pfizer International, New York, NY), itraconazole (Dược phẩm Jansen, Beerse, Bỉ) và amphotericin B (Squibb, Princeton, NJ, USA) đã được sử dụng cho FFND.
 
Các chủng phân lập được cấy trên môi trường thạch đường khoai tây ở 280C đến khi khuẩn lạc mọc trong 7 ngày đối với nấm dermatophytes và 3 ngày đối với FFND. Các khuẩn lạc nấm được phủ lên 5 mL nước muối vô trùng (0,85%) và các huyền phù được tạo ra bằng cách cào bề mặt bằng đầu pipet Pasteur. Khuẩn và hạt hyphal được chuyển đến một ống vô trùng, để ở nhiệt độ phòng 15–20 phút và sau đó phủ huyền phù lên trên rồi trộn lẫn bằng máy trộn 15 giây. Mật độ quang học của các huyền phù này được điều chỉnh bằng máy quang phổ bước sóng 520 nm đến mức truyền qua 70-82%, được thiết lập bởi CLSI đối với nấm filamentous. Kết quả huyền phù được pha loãng đến 1:50 trong môi trường RPMI (Sigma) Công ty hóa chất, St. Louis, MO, Hoa Kỳ) để thu được kích thước nuôi cấy cuối cùng khoảng 2 x104 đến 4 x104 CFU⁄mL.
 
Các thuốc kháng nấm và chuẩn bị nuôi cấy cho nấm men
 Itraconazole (Dược phẩm Jansen, Beerse, Bỉ), voriconazole và fluconazole (P fi zer International, New York, NY) đã được sử dụng để đánh giá tính nhạy cảm trong ống nghiệm của nấm men. Các chủng nấm men được phân lập nuôi cấy trên thạch đường Sabouraud trong 24–48 giờ ở 35°C. Huyền phù được chuẩn bị trong nước muối vô trùng (0,85%) và mật độ quang học được điều chỉnh bằng máy quang phổ bước sóng 530 nm đến mức truyền qua 85%. Kết quả huyền phù được pha loãng đến 1:50 và sau đó là 1:20 trong môi trường RPMI 1640 để thu được kích thước cấy cuối cùng vào khoảng 1 đến 5 x 103 CFU⁄mL.
 
Quy trình thử nghiệm đối với nấm men và nấm filament
Các dung dịch pha loãng của thuốc kháng nấm được thực hiện trong môi trường đệm RPMI-1640 với pH 7.0 với axit morpholinepropanesulfonic 0,165 mol/L (MOPS; Sigma Aldrich). Nồng độ cuối cùng dao động từ 0,125 đến 64 lg⁄mL đối với fluconazole và griseofulvin và 0,03 đến 16 µg⁄mL đối với ketoconazol, itraconazole, voriconazol và amphotericin B.
Các đĩa pha loãng đáy phẳng chứa 100 µL dung dịch pha loãng thuốc kháng nấm được cấy vào 100 µL của dịch cấy.  MIC được xác định sau 5 ngày ủ ở 28°C đối với dermatophytes, đối với FFND, đọc được kiểm tra hàng ngày nó mọc và tăng sinh ở 35°C. Đối với nấm men, các đĩa được ủ ở 35°C và MIC được xác định bằng mắt sau 48 giờ. Việc kiểm soát chất lượng được thực hiện bằng cách sử dụng chuẩn chuẩn Candida parapsilosis (ATCC 22019) và mỗi mẫu được thử nghiệm trùng lặp.
 
Đối với các thuốc nhóm azole và griseofulvin, MIC được xác định là nồng độ thấp nhất, cho thấy sự ức chế tăng trưởng 80% so với sự tăng trưởng trong kiểm soát. Đối với terbinafine và amphotericin B, MIC được xác định là nồng độ thấp nhất cho thấy sự ức chế tăng trưởng 100%.
Các điểm cắt giải thích cho Candida spp được áp dụng cho fluconazole, itraconazole và voriconazole, theo khuyến cáo của CLSI. phân lập đối với fluconazole MIC ≥ 64 µg⁄mL, itraconazol MIC ≥  1 lµg⁄mL và voriconazole MIC ≥  4 lµg⁄mL được coi là đề kháng. Đối với dermatophytes và FFND không có ngưỡng chuẩn để phân loại các loại nấm này là nhạy hoặc kháng với các thuốc kháng nấm.
 
III.Kết quả
Trong số 114 bệnh nhân lâm sàng nghi ngờ nhiễm nấm móng, thì có 95 (83,3%) xét nghiệm có nấm, trong đó có 16 nam (16,8%) và 79 phụ nữ (83,2%). Độ tuổi của bệnh nhân thay đổi từ 19 đến 84 tuổi (tuổi trung bình: 48,1 năm) và nhiều nhất ở độ tuổi từ 40–49 tuổi. Nấm móng chân là 74 bệnh nhân, nấm móng tay là 14 bệnh nhân,cả móng tay và chân là 7 bệnh nhân. Soi trực tiếp và nuôi cấy 102 mẫu nấm dương tính. Các loài nấm thường thấy nhất trong các mẫu bệnh phẩm ở móng là nấm men (56,8%), tiếp theo là dermatophytes (30,4%) và FFND (12,7%).
 
Trong số các nấm men, C. parapsilosis tìm thấy 31 mẫu (53,4%). Loài này cho thấy màu hồng nhạt ở môi trường CHROMagarTM Candida và sợi tơ nấm giả ngắn mà không có sản xuất clamidoconidia trên môi trường thạch bột ngô.Trichophyton rubrum là loài được phân lập nhiều nhất trong số nấm  dermatophytes, tìm thấy trong 23 mẫu (74,2%) và Fusarium spp tìm thấy 8 mẫu (61,5%) trong số FFND. Trong số 102 mẫu nấm móng chân 84 mẫu  (82,3%) nhiều hơn nấm tay 17,7%.
 
Trong số các dạng lâm sàng của nấm móng, DLSO là phổ biến nhất (72,1%), tiếp đến là TDO (13,9%), PSO (11,1%) và SWO (2,9%) trong hình 1
Hình 1.
 

 

 

a-nấm móng hai bên hoặc bề tự do (DLSO), b-nấm móng loạn dưỡng toàn bộ (TDO), c-nấm ở gốc móng (PSO), d-nấm móng nông trắng (SWO).

 

Nấm men
n
%
Nấm sợi
n
%
Candida parapsilosis
31
30,5
Trichophyton rubrum
23
22,5
C. albicans
11
10,8
T. mentagrophytes
7
6,9
C. famata
3
2,9
Microsporon gypseum
1
1
C. rugosa
3
2,9
Fusarium spp
8
7,8
C. guilliermondii
3
2,9
Scytalidium hialinum
3
2,9
C. zeylanoides
1
1
Aspergillus versicolor
2
2
C. lusitaniae
1
1
 
 
 
Trichosporon spp
3
2,9
 
 
 
Geotrichum spp
2
2
 
 
 
Tổng số
58
56,9
 
44
43,1

 

Bảng 1: phân bố loài nấm trong 102 mẫu nấm móng

 

 
Loài nấm
Vị trí tổn thương
Móng chân
Móng tay
n
%
n
%
Nấm men
41
40,2
17
16,7
Dermatophytes
30
29,4
1
1
FFND
13
12,7
-
-
Tổng số
84
82,3
18
17,7

 

Bảng 2: phân bố mẫu nấm móng liên đến loài nấm và vị trí tổn thương.

 

Dữ liệu nhạy của các chủng nấm men trong ống nghiệm cho thấy MIC thấp hầu hết các chủng phân lập. C. parapilosis nhạy cảm với thử nghiệm các thuốc kháng nấm, nhưng MIC của fluconazole tăng lên 8,0 µg⁄mL đối với loài này. Trong một chủng nấm C. albicans phân lập, nó đã kháng với itraconazol với MIC> 1 µg ⁄ml.

  

 

Phân lập(n)
Thuốc kháng nấm
MIC (lg⁄mL)
Giới hạn
MIC50*
MIC90*
GM
C. parapsilosis (31)
Fluconazole
 0,25–8
1
8
1,48
Itraconazole
0,031–0,25
0,062
0,25
0,11
Voriconazole
0,031–0,5
0,062
0,25
0,08
C. albicans (11)
Fluconazole
0,5–2
1
2
1,07
Itraconazole
0,062–4
0,125
0,25
0,12
Voriconazole
0,062–2
0,125
2
0,37
 Candida spp (11)
Fluconazole
0,5–32
2
16
3,52
Itraconazole
0,062–0.5
0,125
0,5
0,14
Voriconazole
0,031–0.5
0,062
0,5
0,13
Others Yeast (5)
Fluconazole
0,5–8
2
8
2
Itraconazole
0,125–0.5
0,5
0,5
0,31
Voriconazole
0,062–2
1
2
0,49
Bảng 3. dữ liệu trong ống nghiệm nhạy của fluconazole, itraconazole, voriconazole với nấm men được phân lập.
 

 

Phân lập(n)
Thuốc kháng nấm
MIC (lg⁄mL)
Giới hạn
MIC50*
MIC90*
GM
T. rubrum (23)
Itraconazole
 0,062–16
0,25
0,5
0,24
Ketoconazole
0,062–8
0,25
4
1,34
Griseofulvin
0,5–2 
2
2
0,48
Terbinafine
0,0075–0,015
0,015
0,015
0,01
T. mentagrophytes(7)
Itraconazole
125–16 
0,25
16
0,41
Ketoconazole
0,5–4
0,5
4
1,48
Griseofulvin
1–8
1
8
0,61
Terbinafine
0,015–0,062
0,015
0,062
0,01
 Fusarium spp (8)
Itraconazole
4–16
8
16
8,72
Voriconazole
2–8
4
4
4,76
Amphotericin B
1–2
2
2
1,54
Outros FFND‡ (5)
Itraconazole
0,25–16
0,5
16
1,15
Voriconazole
0,125–16
0,5
8
1
Amphotericin B
0,062–16
2
16
2,64
Bảng 4. dữ liệu trong ống nghiệm nhạy của thuốc kháng nấm với dermatophytes and FFND được phân lập.
Tính nhạy trong ống nghiệm của dermatophytes rất giống nhau đối với từng thuốc kháng nấm được phân tích. Terbinafine cho thấy giá trị MIC thấp nhất đối với dermatophytes, vì MIC 90 là 0,015 µg⁄mL đối với T. rubrum và 0,062 µg⁄mL đối với T. mentagrophytes. Giá trị MIC cao 16 µg⁄mL đối với itraconazole được tìm thấy cho một chủng T. rubrum và một chủng T. mentagrophytes. Đối với M. gypseum, thử nghiệm nhạy trong ống nghiệm cho thấy giá trị MIC là 0,25 µg⁄mL đối với itraconazole, 2 µg⁄mL đối với ketoconazole, 0,5 µg⁄mL đối với griseofulvin và 0,015 µg⁄mL đối với terbinafine.
Nấm sợi thuộc chi Fusarium cho thấy MIC cao đối với itraconazole 8,72 µg⁄mL và voriconazole 4,76 µg⁄mL. Liên quan đến FFND khác, loài Scytalidium spp được phân lập cho thấy MIC cao cho tất cả các thuốc kháng nấm được thử nghiệm.
 
IV.Thảo luận
Nấm móng chiếm tỷ lệ khoảng 30% nhiễm nấm nông, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân với tỷ lệ đáng kể và do đó nó được coi là một vấn đề đối với sức khỏe cộng đồng. Bệnh này xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng phổ biến hơn ở người lớn từ 40 đến 60 tuổi. Trong nghiên cứu của chúng tôi, phần lớn (62%) là từ 40 đến 60 tuổi. Sự gia tăng tỷ lệ mắc nấm móng ở nhóm tuổi này là do giảm tỷ lệ tăng trưởng móng và tăng chấn thương móng so với nhóm tuổi trẻ hơn.  Tương tự như các nghiên cứu khác, nữ giới thường bị nấm móng cao chiếm 83,2% tổng số bệnh nhân bị nấm móng. Phổ biến ở phụ nữ có thể là kết quả của chấn thương móng do sử dụng giày cao gót hoặc các hoạt động thủ công tạo điều kiện cho chấn thương móng. Hơn nữa, nữ giới bị nấm móng thì khám và điều trị nhiều hơn nam giới.
nhiều tác giả khác nhau đã báo cáo nấm móng chân chiếm tỷ lệ cao. Trong nghiên cứu này, móng chân tổn thương (82,3%) thường cao hơn so với nấm móng tay(17,7%) với tỷ lệ 4,6: 1. Theo Mugge và cộng sự, tỷ lệ này cao hơn có thể là do sự phát triển của móng chân chậm hơn so với móng tay và có thể là kết quả tăng cơ hội chấn thương ở móng chân.
 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, các biểu hiện lâm sàng nấm móng khác nhau. DLSO chiếm ưu thế (72,4%) ở bệnh nhân của chúng tôi, phổ biến là do dermatophyte và cũng có thể do nấm men và FFND gây ra. Nấm móng loạn dưỡng toàn bộ chiếm tỷ lệ (13,9%) mà không có sự tương quan với nguyên nhân. Vì vậy, kết quả của chúng tôi không thể cho sự tương quan lâm sàng và căn nguyên. Theo Garg và cộng sự, rất khó để xác định tác nhân gây bệnh đơn giản bằng cách nhìn vào móng bị bệnh.
 
Các tác nhân gây bệnh nấm móng bao gồm nấm men, dermatophyte và FFND. Nấm men là tác nhân phổ biến nhất gây nấm móng trong nghiên cứu này, chiếm 56,9% các trường hợp. C. albicans là loài chính gây bệnh này, ngày nay các loài khác đang tăng là tác nhân gây bệnh. Trong số các nấm men được phân lập trong nghiên cứu của chúng tôi, C. parapsilosis được tìm thấy ở 53,4% (31 của 58). Nấm men này đã chiếm ưu thế trong một số nghiên cứu. Theo Tavanti và cộng sự C. parapsilosis được chia thành ba loài, C. parapsilosis sensustrict, Candida orthopsilosis và Candida metapsilosis có kiểu hình giống nhau. Trong số các chủng C. parapsilosis, đã được xác định ở Mỹ Latinh 12,7% C. orthopsilosis. Loài này đã được xác định từ các vị trí khác nhau trên cơ thể bao gồm cả móng tay. C. parapsilosis là có thể tách keratin, cho là một bước mới trong việc tìm hiểu bệnh sinh của nấm móng gây ra bởi loài này.
 Dermatophytes là nguyên nhân thứ hai của nấm móng được tìm thấy trong nghiên cứu này. Dermatophytes ưa người như T. rubrum chiếm tỷ lệ 22,5% mẫu nấm móng, chiếm 74,2% (23 của 31) trong số dermatophytes. T. rubrum chiếm tỷ lệ cao nhất của nấm dermatophyte gây bệnh của nấm móng . Tỷ lệ cao của T. rubrum có thể được giải thích bởi vì loại nấm này thích nghi tốt với mô keratin ở người, gây ra một quá trình viêm mạn tính và sự lây lan xảy ra dễ dàng từ người này sang người khác, đặc biệt là ở các đô thị lớn.
 
 Ngoài nguyên nhân do dermatophyte và nấm men, nghiên cứu này cho thấy rằng FFND có thể là nguyên nhân của nấm móng. Tỷ lệ của FFND về sinh bệnh học của nấm móng là thay đổi trong các nghiên cứu dịch tễ học. Trong nghiên cứu này, FFND là chiếm 12,7% mẫu móng. Gianni và cộng sự, cho biết ở Ý một tỷ lệ 8%, trong khi Chadeganipour và cộng sự, cho biết Iran tỷ lệ cao (28,4%) của những loại nấm này là nguyên nhân gây bệnh nấm móng. Những nấm này có hoạt tính ly giải keratin thấp hơn so với dermatophytes, vì vậy chúng ít có khả năng gây thương tổn cho móng.
 Nấm mốc thường được phân lập từ móng bị bệnh là Fusarium spp, nấm đã được chứng minh là tác nhân gây nấm móng trong nhiều nghiên cứu. Tại Đài Loan, trong số 30 trường hợp nấm móng do FFND, Fusarium spp được tìm thấy là17. Ở Hoa Kỳ, Fusarium spp đã được báo cáo chiếm tỷ lệ 34,1% nấm móng. Ở bang Ceara, Brazil, Brilhante và cộng sự, cho biết sự phát triển của nấm thuộc chi Fusarium như là tác nhân của nấm móng bởi FFND. Vai trò của Fusarium spp như một tác nhân gây bệnh của nấm móng vẫn là một vấn đề lớn còn tranh luận. Các loài này được phân bố rộng rãi trong đất và có thể xâm nhập phần sừng của móng gây bệnh.
 
Các phương pháp được sử dụng cho tính nhạy với thuốc kháng nấm trong ống nghiệm có thể có lợi để dự đoán khả năng kháng khuẩn để loại trừ nấm xác định và phát hiện các xu hướng kháng thuốc của vi sinh vật. Có ít dữ liệu về các xu hướng nhạy với thuốc kháng nấm trong số các chủng Candida gây bệnh nấm móng. Trong nghiên cứu này, chúng tôi tìm thấy một C. albicans được phân lập đề kháng với itraconazol. Thuốc này là một thuốc chống nấm có sẵn rộng rãi để điều trị nấm móng,  do đó chúng tôi khuyến cáo thận trọng khi sử dụng itraconazole với các chủng Candida khác nhau. Mặc dù trong nghiên cứu này, C parapilosis không có kháng đối với các thuốc kháng nấm, 19,4% các chủng phân lập có MIC của fluconazol là 8 µg⁄mL. Những kết quả này cho thấy sự hiện diện của C. orthopsilosis và C. metapsilosis trong số C. parapsilosis sensu lato được phân lập. Theo Lockhart và cộng sự, Sự phân bố MIC của C. orthopsilosis và C. metapsilosis cao hơn so với C. parapsilosis. Miranda-Zapicovà cộng sự đã xác định được một chủng C. metapsilosis được phân lập từ một bệnh nhân viêm ống tai ngoài đề kháng với fluconazole.
 
Đối với dermatophytes, không có quy trình để xác định các loại nấm này có khả năng kháng hoặc nhạy cảm với các thuốc kháng nấm hay không. Trong nghiên cứu này, việc đánh giá hoạt tính thử nghiệm trong ống nghiệm của các thuốc kháng nấm cho thấy terbinafine là thuốc có hiệu quả nhất trong việc ức chế sự phát triển của dermatophytes (có giá trị MIC thấp). Những kết quả này tương tự như một số nhà nghiên cứu khác. Terbinafine có thể rất có lợi trong điều trị nấm móng liên quan đến dermatophytes.
 
 Mặc dù trong số các dẫn xuất azole, itraconazole có giá trị MIC thấp hơn  đối với dermatophytes, 0,24 µg⁄mL đối với T. rubrum và 0,41 µg⁄mL đối với T. mentagrophytes, chúng tôi tìm thấy hai chủng phân lập MIC của 16 µg⁄mLvới thuốc này. Dữ liệu tương tự về tính nhạy trong ống nghiệm của dermatophytes đối với itraconazole đã được xác định bởi Gupta & Kohli.
 
Trong nghiên cứu này, itraconazol và voriconazole có MIC rất cao đối với hầu hết các chủng Fusarium được phân lập. Những loại thuốc này đã được báo cáo sử dụng điều trị những bệnh nhân suy giảm miễn dịch nhiễm nấm, bao gồm cả những người bị nhiễm Fusarium spp. Không có sự nhất trí về hoạt động trong ống nghiệm của thuốc cho các loại nấm này. Mặc dù Ortoneda và cộng sự và Selleslag đã chỉ ra rằng các thuốc kháng nấm có hoạt tính hạn chế đối với các loại nấm này, Bueno và cộng sự cho thấy MIC thấp của voriconazol đối với các loài Fusarium. Mặc dù nó độc cho thận và hiệu quả thấp, amphotericin B là thuốc mà lâm sàng vẫn sử dụng điều trị nấm Fusarium. Mặc dù thuốc này không được sử dụng để điều trị nấm móng, nó được dùng làm thuốc chống nấm trong nghiên cứu của chúng tôi, các giá trị MIC thấp của thuốc này với các loài Fusarium.
 
Nấm móng, gây ra bởi Fusarium, có thể là điểm khởi đầu cho nhiễm nấm toàn thân ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch, có tầm quan trọng lớn trong việc lựa chọn thuốc chống nấm điều trị nấm mốc này. Theo Cuenca-Estrella & Rodrı ´guez-Tudela, kết quả của tính nhạy trong ống nghiệm của các thuốc kháng nấm cung cấp bằng chứng đáng tin cậy để hỗ trợ lâm sàng điều trị.
 
Các hoạt tính kháng nấm của voriconazole, itraconazole và amphotericin B được trình bày trong nghiên cứu của chúng tôi MIC cao cho Scytalidium hialinum. Những kết quả này có thể được giải thích bằng đáp ứng lâm sàng của nấm móng gây ra bởi FFND, nó thường có kháng lại điều trị. Các giá trị MIC cao trong các thử nghiệm nhạy trong ống nghiệm đã được báo cáo bởi các nhà nghiên cứu khác đánh giá các thuốc kháng nấm khác nhau cho một số loài FFND. Theo Bueno và cộng sự, FFND có sự đề kháng trong ống nghiệm và trên lâm sàng đối với hầu hết các loại thuốc chống nấm có sẵn.
 
Kết luận, C. parapilosis nấm men nổi lên là loài nấm phổ biến nhất được phân lập từ các mẫu lâm sàng của nấm móng chân và tay của bệnh nhân bị nấm móng. Đáp ứng khác nhau với các thuốc bằng các thử nghiệm nhạy trong ống nghiệm của nấm gây bệnh nấm móng cho thấy tầm quan trọng của những phương pháp này để hỗ trợ các bác sĩ lâm sàng trong việc lựa chọn phương án điều trị tốt nhất.
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ngày 30/01/2019
Ths. Nguyễn Thị Bình  
[ In trang ][ Xem & in ][ Gửi mail ][ Đầu trang ][ Trở lại ]
 

THÔNG BÁO

 Thông báo về việc tuyển bác sỹ

Căn cứ nhu cầu công tác và nhân lực tại khoa, Bệnh viện Phong - Da liễu Trung Ương Quy Hòa thông báo như sau:

  1. Đối tượng cần tuyển: Bác sĩ đa khoa, chuyên khoa thuộc các lĩnh vực:

    1. Gây mê hồi sức;
    2. Tai mũi họng;
    3. Phụ - sản;
    4. Răng hàm mặt;
    5. Nội tim mạch
    6. Giải phẫu bệnh;
    7. Huyết học, truyền máu;
    8. Sinh học phân tử;
  2. Địa điểm nhận hồ sơ:
    1. Phòng Tổ chức cán bộ (Cơ sở Quy Hòa)
    2. Số điện thoại liên hệ: 0905764065

Địa chỉ bệnh viện: Bệnh viện Phong - Da liễu Trung ương Quy Hòa;

KV2, phường Ghềnh Ráng, TP Quy Nhơn.

 

 THÔNG BÁO CHIÊU SINH:

+ Lớp Định hướng chuyên khoa Da liễu.
+ Lớp kỹ thuật xét nghiệm trong chuyên khoa Da liễu.
+ Lớp kỹ năng chăm sóc da cơ bản
 

 Thông báo mời thầu 03 gói thầu mua sắm trang thiết bị y tế năm 2018.

 
 

 Đăng ký tham dự HN SHKH Da liễu khu vực Miền Trung - Tây Nguyên lần thứ 23 năm 2018

 
TÁC NGHIỆP
TIN VIDEO
Giới thiệu Bệnh viện
  Trang tin điện tử Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa 
Giấy phép của Cục Báo chí – Bộ Văn hóa Thông tin số: 54/GP-BC ngày 01/03/2006
  Bản quyền: Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa
 Tel: (84 0256) 3747 999 – Fax: (84 0256) 3646 344 – Đt.Tư vấn (84 0256 3532 536) Email: quyhoandh2005@gmail.com