Thứ ba, Ngày 19 Tháng 03 Năm 2019
  • Chào mừng các bạn đến với Trang tin điện tử Bệnh viện Phong - Da liễu Trung ương Quy Hòa!
Trang chủTìm kiếmSơ đồ trangLiên hệEnglish
Liên kết
  Đang truy cập: 1  
 
1 3 6 5 2 6 5 0
 
 
 
Chuyên đề KCB Xét nghiệm

 

1.    Giới thiệu
Giun móc (A.duodenale) và giun mỏ (N.americanus) là hai loài giun tròn  thuộc họ Ancylostomidae, thường được gọi với một tên chung là giun móc. Giun móc và giun mỏ trưởng thành ký sinh ở tá tràng và hỗng tràng của người, ấu trùng giun móc/mỏ sống trong đất, cả hai loài đều lây nhiễm qua da, đều gây nên một bệnh cảnh lâm sàng giống nhau gọi là bệnh giun móc. Riêng loài A.duodenale còn có thể lây nhiễm qua đường tiêu hóa
 
Bệnh giun móc/mỏ có ở khắp nơi trên thế giới, nhưng phổ biến nhất là ở các nước vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, đặc biệt là các nước đang phát triển. Theo số liệu báo cáo của UNESCO, hiện nay trên thế giới có khoảng trên một tỷ người đang bị nhiễm giun móc/mỏ. Riêng châu Á chiếm khoảng gần một tỷ người, trong đó: Ấn Độ 319 triệu, Trung Quốc 358 triệu, Trung Đông 96 triệu, các vùng khác 200 triệu; Nam Mỹ 135 triệu; cận Sahara 140 triệu. Theo Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) (WHO, 2007) tại Việt Nam số người nhiễm giun móc/mỏ là 21,8 triệu người (28,6% dân số). Số liệu điều tra của Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương, nhiễm giun móc/mỏ phân bố rộng rãi trong cả nước với tỷ lệ nhiễm khác nhau: ở miền Bắc từ 3 - 67%; miền Trung từ 36 - 69% và miền Nam từ 47 - 68%.
 
Hầu hết bệnh nhân nhiễm giun không có triệu chứng, vì thế không được phát hiện để điều trị và họ trở thành nguồn lây bệnh quan trọng trong cộng đồng. Tuy vậy người nhiễm giun ít nhiều  bị ảnh hưởng đến sức khỏe, khả năng học tập, lao động, phát triển trí tuệ và thể chất, đặc biệt đối với trẻ em và phụ nữ mang thai. Với cường độ nhiễm nặng và thời gian nhiễm kéo dài có thể sẽ có những biểu hiện bệnh lý rõ rệt như: thiếu máu do thiếu sắt, giảm albumin máu, suy dinh dưỡng… làm giảm chất lượng cuộc sống.
 
Từ năm 2006 đến nay, được sự hỗ trợ của Tổ chức y tế thế giới về tẩy giun định kỳ cho một số nhóm đối tượng có nguy cơ nhiễm giun cao như nhóm tuổi trẻ em từ 24 đến 60 tháng tuổi, nhóm trẻ học sinh tiểu học cũng đã làm giảm tỷ lệ và cường độ nhiễm giun nhiều, tuy nhiên vẫn còn một số nhóm đối tượng khác chưa được quan tâm.
 
2.    Các kỹ thuật chẩn đoán bệnh giun móc/mỏ
 Xét nghiệm phân tìm trứng giun móc/mỏ được coi là “tiêu chuẩn vàng” và là biện pháp đơn giản, chính xác, rẻ tiền được áp dụng trong chẩn đoán bệnh giun móc/mỏ. Có nhiều phương pháp xét nghiệm phân như:
 
 + Phương pháp xét nghiệm trực tiếp (phương pháp cổ  điển): đến nay vẫn được xem là phương pháp đơn giản nhất, ít tốn kém, không đòi hỏi dụng cụ, hóa chất phức tạp, cho kết quả  nhanh, có thể  phát hiện được giun móc/mỏ,  tất cả  các loại đơn bào và trứng giun sán  khác,  tuy nhiên có thể  bỏ  sót những trường hợp nhiễm nhẹ vì số lượng phân xét nghiệm trên tiêu bản ít.
 
+ Phương pháp phong phú (Willis): phương pháp này cho phép xác  định trứng giun tốt hơn do tập trung được nhiều trứng  bằng cách làm nổi trứng bằng nước muối bão hòa, phương pháp này cũng đơn giản ít tốn kém  nhưng  cho kết quả chậm (mất thời gian).
 
+ Phương pháp Kato (do Kato và Miura đưa ra năm 1954): là phương pháp xét nghiệm trực tiếp cải tiến, có khả  năng phát hiện trứng giun móc/mỏ  cao hơn vì  lượng  phân  xét  nghiệm  lớn  hơn,  được  sử  dụng  để  xét  nghiệm  hàng, loạt, nhanh, đơn giản, ít tốn kém, thường dùng để điều tra cộng đồng.
 
+ Phương pháp xét nghiệm Kato - Katz: là phương pháp Kato được Katz cải  tiến  năm 1972 để  định lượng trứng giun sán trong phân, cũng sử dụng để điều tra cộng đồng rất hiệu quả.
 
+ Phương pháp tập trung trứng Ether - fomalin: tìm trứng giun ở phân người đạt độ nhạy và độ đặc hiệu cao so với tiêu bản  dày Kato - Katz khi phát hiện mầm  bệnh  với  cường  độ  nhiễm  thấp. Tuy  nhiên  xét  nghiệm  này  đòi  hỏi dụng cụ, hóa chất và quy trình phức tạp hơn.
 
+ Nuôi cấy phân tìm ấu trùng giun móc trong phân: Phương pháp Harada -Mori cải tiến, nuối cấy trên đĩa pertri.
 Hiện nay thường sử dụng phương pháp Kato-Katz để xét nghiệm, ưu điểm của phương pháp này vừa có thể đánh giá được tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm giun móc.
Chú ý khi xét nghiệm chẩn đoán giun móc cần phải xét nghiệm sớm, không để bệnh phẩm quá 24 giờ, trứng có thể nở thành ấu trùng ra ngoài, rất khó phân biệt với ấu trùng các giun khác [2].
 
- Phân loại cường độ nhiễm theo 3 mức độ là nhiễm nhẹ, nhiễm trung bình và nhiễm nặng (dựa theo phân loại của WHO).
Loài giun
Mức độ
nhiễm nhẹ
(trứng/gam)
Mức độ
nhiễm trung bình
(trứng/gam)
Mức độ
nhiễm nặng
(trứng/gam)
Giun đũa
1 – 4.999
5.000 – 49.999
≥ 50.000
Giun tóc
1 – 999
1.000 – 9.999
≥ 10.000
Giun móc
1 – 1.999
2.000 – 3.999
≥ 4.000
 

   

3.    Tài liệu tham khảo

 

 

-          Bộ môn ký sinh học Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (2010), Ký sinh trùng y học, Giáo trình đại học, NXB Y học, Thành phố HCM,
-     Bộ môn SR-KST-CT Học viện Quân y (2005), Ký sinh trùng và Côn trùng y học. Giáo trình giảng dạy sau đại học, NXB Quân đội, Hà Nội.
-     Ahmed K. Al-Delaim, Nabil A. Nasr, et al (2014), "Epidemiology of Intestinal Polyparasitism among Orang Asli School Children in Rural Malaysia", Trop Med Int Health.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ngày 30/01/2019
Ths. Bùi Thị Thúy  
[ In trang ][ Xem & in ][ Gửi mail ][ Đầu trang ][ Trở lại ]
 

THÔNG BÁO

 - lớp Định hướng chuyên khoa Da Liễu 

 - Lớp Kỹ Thuật Xét nghiệm trong chuyên khoa Da Liễu 

 - Lớp Kỹ năng chăm sóc da cơ bản

  Tải Bảng đăng ký

 

 

 

 Thông báo mời thầu 03 gói thầu mua sắm trang thiết bị y tế năm 2018.

 
 

 Đăng ký tham dự HN SHKH Da liễu khu vực Miền Trung - Tây Nguyên lần thứ 23 năm 2018

 

Bệnh viện Phong - Da liễu Trung ương Quy Hòa kính mời Quý Bác sĩ và các anh chị hoạt động trong chuyên ngành Da liễu tham dự Hội Nghị Sinh Hoạt Khoa Học Miền Trung - Tây Nguyên lần thứ 23, năm 2018.

Thời gian dự kiến: ngày 14 tháng 12 năm 2018.

 

 
TÁC NGHIỆP
TIN VIDEO
Giới thiệu Bệnh viện
  Trang tin điện tử Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa 
Giấy phép của Cục Báo chí – Bộ Văn hóa Thông tin số: 54/GP-BC ngày 01/03/2006
  Bản quyền: Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa
 Tel: (84 0256) 3747 999 – Fax: (84 0256) 3646 344 – Đt.Tư vấn (84 0256 3532 536) Email: quyhoandh2005@gmail.com